Trang chủKinh nghiệm

HƯỚNG DẪN CẶN KẼ CÁCH LÀM IELTS READING ĐỂ ĐẠT ĐIỂM CAO

 

1. Chọn bài để làm trước và bài để làm sau

Bước đầu tiên này rất quan trọng, có thể ảnh hưởng đến thời gian làm bài và kết quả thi của chúng ta. Trước hết bạn dành ra 2 phút đầu tiên để đọc sơ lược các tiêu đề, paragraph và xem sơ qua các câu hỏi ở cả 3 bài text. Các bạn cảm thấy tự tin với bài nào nhất thì làm bài đó trước, bài khó nhất làm sau cùng.

2. Phân chia thời gian làm bài hiệu quả để tránh làm bài không kịp

ü Trước tiên, bạn phải làm bài tập nhiều lần ở phần READING để có thể đưa ra cho mình 1 giải pháp thời gian hiệu quả, dành bao nhiêu phút cho mỗi section. Thường thì bạn nên phân chia:

 SECTION 1: 15 phút

 SECTION 2: 20 phút

 SECTION 3: 25 phút

· Nếu sắp hết giờ làm bài thì rà soát lại các câu hỏi chưa trả lời được, nếu không có căn cứ nào trả lời thì câu trả lời cuối cùng ai cũng hiểu => đánh lụi.

· Nên làm những câu dễ ăn điểm nhất đối với khả năng của mình. Các bạn đừng nghỉ câu dễ sẽ để dành làm sau vì nó tốn ít thời gian, tranh thủ tận dụng thời gian nhiều để làm câu khó.

· Không dành thời gian quá nhiều cho 1 câu hỏi. Nếu không những câu hỏi dễ ở sau bạn sẽ không có cơ hội để giải quyết đâu.

· Làm xong mục nào thì đánh trả lời vào tờ answer sheet luôn. Không để làm xong hết mới đánh vào đó. Như vậy, cuối giờ rất dễ luống cuống và đánh nhầm câu trả lời.

3. Giữ vững tâm lý khi làm READING

· Thường thì tới phần READING thì ai cũng tập trung vào đề thi, căng thẳng khi từ đầu đến cuối nhìn vào 1 rừng chữ là chữ. Cho nên, giữ được trạng thái tâm lý vững là điều cực kỳ cần thiết, không để bị cuốn theo bài thi dễ làm chúng ta mất phương hướng và bị tù suy nghĩ.

· Luyện tập nhuần nhuyễn cách làm từng dạng bài, những điểm mấu chốt để khi vào cầm đề thi lên làm làm theo quán tính.

· Không nhìn đồng hồ liên tục, như vậy vừa mất thời gian, vừa mất bình tĩnh. Nên làm xong khoảng 10 câu thì kiểm tra lại thời gian một lần để điều chỉnh hợp lý cho quãng thời gian còn lại.

4. Kỹ thuật Skimming & Scanning

· Đầu tiên đọc câu hỏi trước, không nên đọc bài text trước. 

· Bằng cách sử dụng thành thạo các kỹ thuật skim, scan và keywords để nhanh chóng định vị được đoạn văn chứa câu trả lời, và tìm câu trả lời đúng, tránh mất thời gian đọc lan man, dàn trải. Đọc câu hỏi và đánh dấu key words ở câu hỏi, sau đó quay trở lại đoạn text để lướt tìm key words đó hoặc synonyms. Đánh dấu vị trí key words, mở rộng đọc thêm 1, 2 câu trước  hoặc 1, 2 câu sau và sau đó tìm câu trả lời.

5. Cách làm bài dạng MATCHING HEADINGS

   Một vài cách để tìm câu chủ đề (topic sentence): 

· Dựa vào vị trí: topic sentence có thể không phải là câu dài nhất, thường thì nó nằm ở 2 câu đầu hoặc 2 câu cuối (điều này thường xảy ra khi câu đầu tiên của đoạn văn là câu hỏi, hoặc câu thứ hai bắt đầu bằng từ But, However, Yet). Ngoài ra topic sentence nằm ở giữa đoạn văn. Nếu bạn không tìm thấy câu chủ đề ở cả 2 trường hợp kể trên thì có thể là câu chủ đề nằm ở giữa đoạn . Tuy nhiên, đây chỉ là những trường hợp thông thường, có những đoạn text sẽ không có câu chủ đề cụ thể, mà chúng ta phải nắm được ý của cả đoạn thì mới tìm ra được câu chủ đề.

· Dựa vào các từ liên quan: câu chủ đề cũng thường hay bắt đầu bằng các từ But, Yet, The point is, Obviously, Overall, In reality, In general, The main point is, The truth is, Above all, …

   Những dạng khó như headings, “which paragraph contains…” thì để làm sau cùng, vì khi đã làm những câu trước rồi, mình sẽ quen với đoạn văn hơn và nắm được sơ lược ý. Do đó làm những câu dạng này dễ hơn.

   Không nên dựa vào keywords để chọn headings vì đây chính là cái bẫy của người ra đề. Họ sẽ cố tình sắp xếp cho từ trong headings và từ trong bài đọc giống nhau để đánh lừa chúng ta.

6. Cách làm bài dạng YES/NO/NOT GIVEN hoặc TRUE/FALSE/NOT GIVEN

True/False/Not Given: đây là dạng bạn cần dựa vào sự kiện có trong bài

· Chia nhỏ và phân tách câu hỏi (Subject/Verb/Object) và so sánh từng phần của câu hỏi với bài đọc.

VD trong câu hỏi: In 1877–78/ Did Thomas Edison/ invent and develop/ the carbon microphone?

Đoạn văn trong bài có câu: Thomas Edison/ discovered /the carbon microphone/ in 1877 – 1878.

So sánh 2 câu chúng ta thấy cùng mốc năm 1877-1878, cùng 1 người Edison, cùng một object là carbon microphone, và cùng một hành động invent = discover

· Sau khi so sánh câu hỏi và đoạn text nếu giống 100% thì là YES/TRUE. Nếu không thì khoanh tròn để xem xét lại.

· Chú ý nếu trong câu hỏi xuất hiện các từ như “usually, often, many, some, all, almost, most of, always, never, hardly, unique, only” hoặc “can, could, likely, probably, possibly, may, must, should…” mà bài text không có thì câu trả lời là NO/FALSE

· Đối với “Not Given” thì “Not Given” không phải  là không có thông tin. Thông thường thông tin của một câu “Not Given” sẽ xuất hiện trong bài đọc, nhưng thông tin đó không dùng để trả lời câu hỏi và thông tin đó cũng không được suy diễn, suy nghĩ ra ngoài phạm vi bài đọc  

Bài viết kỹ hơn về cách làm dạng này: http://luyenielts.vn/huong-dan-chi-tiet-cach-lam-dang-true--false--not-given-hoac-yes--no--not-given.html

7. Trau dồi càng nhiều vốn từ vựng càng tốt cũng như luyện tập làm bài READING thường xuyên là bí quyết duy nhất đạt điểm cao.

Từ vựng là yếu tố rất quan trọng trong bất kỳ kỹ năng nào của IELTS. Giàu vốn từ vựng giúp bạn hiểu được chủ đề bài text nhanh hơn, rèn luyện được khả năng đánh dấu và nhận diện từ đồng nghĩa “synonyms” của các key words.

 
Đăng ký lớp học
Vui lòng điền đầy đủ thông tin phía dưới
Vui lòng nhập mã xác nhận
Hoặc gọi đến Hotline: 0906 334 223